Ống chân không và máy tính điện tử

Trước khi transistor xuất hiện, linh kiện điện tử chủ yếu là ống chân không có dòng điện chạy qua giữa các điện cực. Ống hoạt động dựa trên nguyên lý bức xạ ion do nhiệt: cực âm được nung nóng phát ra các ion âm hay electron (điện tử) và chúng bị hút về cực dương.

LƯỢC SỬ

Thomas Edison năm 1883 đã dùng điện đốt nóng sợi dây tóc trong ống chân không, ông thấy có các điện tử phát ra và chúng có thể thu lại bằng một tấm kim loại. Hiện tượng này được gọi là bức xạ ion do nhiệt và tạo nên nguyên lý cơ bản cho hoạt động của các ống chân không.

1904 — phát minh Diode của Fleming

John Ambrose Fleming năm 1904 đã tạo ra diode, gồm một cực âm (cathode) và một cực dương (anode), có khả năng tạo ra dòng điện một chiều từ dòng điện xoay chiều. Đây là thành phần cơ bản của máy phát sóng vô tuyến và thiết bị chỉnh lưu điện.

Lee de Forest năm 1906-1908 đã đặt thêm một lưới tản nhiệt đặc biệt giữa cực âm và cực dương của diode, tạo ra triode. Sự đổi mới này cho phép sản xuất thiết bị khuếch đại và chuyển mạch điện tử, cơ sở của ngành điện tử hiện đại.

Triode của Lee de Forest

Trong các máy tính điện tử đời đầu, ống chân không chủ yếu được sử dụng để xử lý thông tin, bao gồm thực hiện các phép toán logic và đồng bộ hóa tín hiệu điều khiển máy.

Trước khi có ống chân không, các máy tính đã sử dụng các thiết bị cơ khí hoặc rơle điện cơ, vốn bền vững nhưng chậm và gây tiếng ồn. Ống chân không cho phép tạo ra các mạch hoàn toàn là điện tử, chạy nhanh hơn và có khả năng hỗ trợ các thiết kế với kiến ​​trúc phức tạp.

Các ống chân không có thể thực hiện ba chức năng cơ bản:

  • Chuyển mạch (BẬT/TẮT): ống được kết nối thành bộ đóng-mở nhanh, một thành phần cơ bản trong các cổng logic.
  • Khuếch đại: các tín hiệu không bị suy giảm mà ngược lại được tăng cường mạnh lên sau khi đi qua mạch.
  • Đồng bộ hoá: tạo ra các xung ổn định, đồng bộ về thời gian giữa các dữ liệu và tín hiệu điều khiển.

Các máy tính điện tử đời đầu thường dùng nhiều Triode là một ống chân không có ba điện cực:

  • Cathode: cực âm, nguồn nhiệt phát ra dòng điện tử.
  • Anode: cực dương, bộ phận thu nhận dòng điện tử.
  • Lưới điều khiển: cực trung gian để kiểm soát dòng điện tử.

Việc điều chỉnh linh hoạt điện thế trên lưới trung gian cho phép kiểm soát dòng điện tử đi từ cực âm tới cực dương. Nguyên lý này tạo nên nền tảng của mạch điện tử trong khuếch đại và chuyển mạch.

Trong máy tính sử dụng ống chân không, 4 thành phần sau đây xuất hiện khắp nơi trong bộ xử lý trung tâm:

  • Cổng logic: các hàm AND, OR, NOT, được thực hiện bằng cách sử dụng ống chân không và các linh kiện thụ động (điện trở, tụ điện, cuộn cảm).:
  • Flip-flop: mạch có 2 trạng thái ổn định được sử dụng để lưu trữ bit dữ liệu trong các thanh ghi và bộ đếm.
  • Mạch điều khiển: quy định trình tự lệnh và quản lý tín hiệu nội bộ.
  • Khuếch đại và điều chỉnh tín hiệu: điều chỉnh tín hiệu từ các thiết bị điện tử nội bộ hoặc thiết bị ngoại vi bên ngoài.

Lưu ý: bộ nhớ chính trong các máy tính điện tử đời đầu thường không chỉ dùng ống chân không. Tuỳ từng loại máy tính và thời kỳ, các công nghệ bộ nhớ khác nhau đã ra đời và cùng tồn tại như: dây trễ, trống từ, xuyến ferrite hoặc ống Williams.

GIỚI HẠN CỦA ỐNG CHÂN KHÔNG

Các ống chân không đã được ứng dụng trong chế tạo máy tính điện tử, mặc dù chúng có những hạn chế lớn sau đây:

  • Tiêu thụ năng lượng và toả nhiệt lớn: nhiệt lượng tỏa ra liên tục ở các cực âm là một điểm trừ về kỹ thuật và kinh tế.
  • Độ tin cậy: Các máy tính điện tử có hàng nghìn ống chân không và thường xuyên gặp sự cố hỏng hóc.
  • Sự cồng kềnh: các ống chân không, thiết bị làm mát và hệ thống cấp điện chiếm nhiều diện tích trong phòng làm việc.
  • Thời gian khởi động lâu: cần có thời gian làm nóng trước khi hoạt động ổn định.

Điều này giải thích hoàn toàn dễ hiểu vì sao mà trong ngành công nghiệp máy tính việc ứng dụng các transistor và mạch tích hợp đã diễn ra rất nhanh chóng.

Ng.Chi Cong ©2019 Bảo tàng CNTT

Micral–N: chiếc máy vi tính đầu tiên

Phần lớn lịch sử máy vi tính cho đến nay được viết trên đất Mỹ. Nhưng thực tế, cội nguồn của máy tính thương mại có chip vi xử lý đầu tiên trên thế giới lại thuộc về Pháp. “Cha đẻ máy vi tính” là kỹ sư Pháp François Gernelle và một doanh nhân gốc Việt, ông André Trương Trọng Thi.

Sau gần ba năm nằm bệnh viện, ông Thi qua đời tại Pháp ngày 4-4-2005 ở tuổi 69. Ông sinh năm 1936 tại Chợ Lớn, sang Pháp học từ năm 14 tuổi, sau đó vào Trường Vô tuyến điện EFRE ở Paris (nay đổi thành Trường Vô tuyến điện và Tin học EFREI) rồi trở thành kỹ sư vô tuyến điện. Năm 1971 ông thành lập Công ty R2E, và cùng các cộng sự cho ra đời máy vi tính Micral-N vào tháng 5.1973.

Trương Trọng Thi nhận Bắc đẩu bội tinh Pháp

Từ tháng 12 năm 1973, máy Micral đã có ổ đĩa mềm và đến năm 1974, nó được trang bị thêm đĩa cứng, bàn phím và màn hình. Trong những năm 1970, Micral N được bổ sung thêm các mẫu G, S, M, C và V; bốn mẫu cuối cùng sử dụng chip Intel 8080. Năm 1978, nhà sản xuất Micral, R2E, được tập đoàn máy tính khổng lồ CII Honeywell-Bull của Pháp mua lại, nhưng thương hiệu này vẫn tiếp tục tồn tại cho đến năm 1983. Từ năm 1985 đến năm 1989, những chiếc máy tính nhỏ này được gọi là "Bull Micral", mẫu cuối cùng là Bull Micral 600.

Ý tưởng của ông Thi về máy vi tính vẫn được áp dụng đến bây giờ: máy gọn nhỏ, có thể sản xuất hàng loạt với giá phải chăng cho cả cá nhân lẫn doanh nghiệp ứng dụng trong hoạt động hàng ngày. Máy Micral khi ấy đã được đưa vào sử dụng ngay trong hệ thống thu phí xa lộ ở Pháp. Micral-N được xây dựng trên chip 8 bit Intel 8008 chạy ở 500 Khz, dung lượng bộ nhớ 256 bytes (với khả năng mở rộng lên... 1K !), có cả diode LED hiển thị và bàn phím.

Nhóm Micral của A.Trương và F.Gernelle

Mặc dù máy tính cá nhân tại châu Âu sau đó đã mở rộng thành rất nhiều hình thái khác nhau, từ các trò game video gia đình quen thuộc cho đến các workstation dành cho kỹ sư, nhưng có hai yếu tố kìm hãm tiến trình phát triển của nó. Thứ nhất, phần cứng và phần mềm của Mỹ xuất khẩu sang châu Âu có giá rẻ hơn. Thứ hai, ngôn ngữ là một rào cản lớn không chỉ về mặt dịch thuật, các bộ ký tự tại đa số các nước châu Âu cũng khác nhau, trong khi các chương trình và tài liệu bằng tiếng địa phương là điều kiện tiên quyết để máy tính cá nhân thành công.

Ngày 13.02.1994, ông François Gernelle đang xem TV và nghe lễ công bố kỷ niệm 20 năm ngày ra đời chiếc máy vi tính đầu tiên. Ông nhảy lên khi nhìn thấy hình ảnh người chủ cũ của mình, ông Thi, được tôn vinh là người phát minh ra chiếc máy Micral. Ông Thi đóng một vai trò mập mờ khá lâu. Trong vị trí giám đốc công ty R2E nơi ông cùng Gernelle nghiên cứu để tạo ra Micral, ông Thi đã tuyên bố mình là cha đẻ của máy. Vụ kiện kéo dài 4 năm (1994-1998) cho đến khi toà án phải công nhận Gernelle là người đồng phát minh ra chiếc máy vi tính đầu tiên.

François Gernelle

Gernelle và ông Thi gặp nhau năm 1968 tại Intertechnique, một công ty chuyên về các ứng dụng y học và hạt nhân. Kỹ sư điện tử Gernelle lúc đó đã đề xuất một mô hình máy vi tính sơ khai, nhưng nó không hoạt động được. Năm 1972, Gernelle gia nhập vào công ty R2E do ông Thi làm chủ. Tại đây họ đã tìm ra cách tạo ra một hệ thống giá rẻ để tính toán mức độ bốc hơi nước trong đất cho Viện quốc gia nghiên cứu nông học INRA. Gernelle đề xuất một máy tính với chi phí phân nửa. Cuối cùng, nhờ vậy mà máy Micral được ra đời.

Sau này, Gernelle vẫn hơi cay đắng với ông Thi. Tại sao họ đánh mất cơ hội trở thành những người giàu nhờ phát minh này? Bởi vì một ngày trong năm 1975, họ đã lỡ dịp tạo ra một doanh nghiệp khởi sự (start-up) kỳ diệu. Chiếc máy Micral có một số thành công tại Pháp và hãng Honeywell của Mỹ quan tâm tới việc mua nó. Trong một quán bar ở Los Angeles, ông chủ của Honeywell ra giá 2 triệu USD để mua lại Micral và hệ điều hành Prologue của R2E. Ông Thi đòi 4 triệu và ông chủ Honeywell ra về hơi buồn. Sau 1983, khi hãng Bull của Pháp mua lại R2E, Gernelle rời ông Thi để mở một công ty riêng khác, nhưng đã quá chậm.

Máy vi tính Micral-N

Dù không tạo nên một sự nghiệp kinh doanh lớn, nhưng cái tên André Truong và Gernelle vẫn được ngành công nghiệp máy tính ghi nhận là 2 người phát minh ra chiếc máy vi tính đầu tiên. Micral đã mở đường cho cuộc cách mạng vi tính làm thay đổi cuộc sống và cách giao tiếp của nhân loại chỉ trong vòng 20 năm. Các mẫu Micral hiện được trưng bày ở "Musée des arts et métiers à Paris" (Pháp) và "Boston Computer Museum" (Mỹ).

Một số mẫu Micral N nguyên bản hiện đang được lưu giữ trong các bộ sưu tập của Pháp; tuy nhiên, mẫu lâu đời nhất có lẽ là mẫu ở Bảo tàng Lịch sử Máy tính. Nó có niên đại từ thời cựu CEO của R2E, André Truong. Sau này, Paul Allen, người đồng sáng lập Microsoft và tỷ phú, đã mua với 62.000 euro một chiếc Micral N cho bảo tàng của mình ở Seattle tại một cuộc đấu giá.

Từ 2006 giảng đường trường EFREI mang tên André Truong

Năm 2006, nhân lễ kỷ niệm 70 năm thành lập trường EFREI, cựu giám đốc hãng Microsoft đã đọc lời ca ngợi của Bill Gates: "Ông Trương Trọng Thi là một trong những người đã nhận thức sớm khả năng của máy vi tính. Ông đã hướng công tác của mình theo con đường này trước khi tôi và Paul Allen khởi xướng Microsoft… Tôi đã vui thích làm việc với ông trong nhiều thập niên: ông luôn nuôi giữ óc sáng tạo và luôn sẵn lòng đem công nghệ phục vụ đại chúng".

Có thể Trương Trọng Thi chưa kịp đóng góp gì cho đất nước nơi ông sinh ra. Nhưng giờ đây, khi ông đã ra đi, chắc chắn sẽ có thêm nhiều người Việt biết đến ông và thêm tự hào rằng một trong 2 nhà phát minh ra máy vi tính là đồng hương của mình. Năm 2008 nhà văn Vũ Ngọc Tiến đã đề nghị Nhà nước Việt Nam truy tặng ông một phần thưởng cao quý xứng đáng, và hình như cho đến nay chưa thấy trả lời. Tuy nhiên trên mạng Internet thì tư liệu về Micral-N và Trương Trọng Thi khá phong phú.

Ng.Chi Cong ©2019 Bảo tàng CNTT

Từ đèn điện tử đến mạch tích hợp

Năm 1947 transistor ra đời rồi dần dần thay thế đèn điện tử (ống chân không). Nó có thể được chế tạo ở kích thước cực nhỏ và thực hiện cực nhanh hiệu ứng đóng mở hoặc khuếch đại dòng điện, nhờ vậy đã thay đổi cả thế giới bằng sự có mặt ở mọi nơi, từ những thiết bị cá nhân gần gũi như máy tính, điện thoại v.v. cho đến những con tàu vũ trụ đang lặng lẽ bay đến các hành tinh xa xôi ...

Máy tính ABC của Atanasoff và Berry

Những máy tính điện tử đầu tiên đã sử dụng rất nhiều ống chân không (còn gọi là đèn điện tử) để thực hiện hiệu ứng đóng mở. Khi vận hành đèn nóng rực nên phải đặt máy tính trong một căn phòng lớn với máy lạnh và một nhóm chuyên viên làm việc tại chỗ rất tốn kém mà vẫn hỏng hóc thường xuyên.

Máy tính ENIAC<

Ống chân không sau đó dần dần được thay thế bằng transistor, còn gọi là bóng bán dẫn. Đó là một loại linh kiện điện tử được chế tạo trên nền tảng công nghệ khuếch đại bán dẫn do ba nhà khoa học William Shockley, John Bardeen và Walter Brattain phát minh vào năm 1947 tại Phòng thí nghiệm Bell nổi tiếng của Mỹ.

3 nhà phát minh transistor W.Shockley, J.Bardeen, W.Brattain

Chiếc transistor đầu tiên làm bằng chất bán dẫn germanium được giới thiệu ngay trước lễ Giáng sinh năm 1947 rồi 6 tháng sau đó có công bố rộng rãi cho toàn thế giới biết. Và ba tác giả nói trên đã vinh dự nhận giải thưởng Nobel vật lý năm 1956. Nhưng đó chưa phải là tất cả câu chuyện mà chỉ mới bắt đầu.

Transistor đầu tiên

Ngành công nghiệp và người tiêu dùng không phải chờ đợi lâu mới biết tới các ứng dụng liên quan. Sản phẩm thương mại đầu tiên có chứa một bộ khuếch đại bán dẫn là máy trợ thính Sonotone 1010 được bán ra thị trường vào năm 1952, tức là chỉ 5 năm sau phát minh về transistor.

Phát minh đó quả thật đã trực tiếp tạo nên cuộc cách mạng công nghiệp mới với các linh kiện và công cụ giúp loài người chuyển sang một thời kỳ phát triển xã hội vượt bậc, được gọi là thời đại thông tin. Năm 1957, tại công ty Texas Instruments nhà khoa học J.Kilby đã sáng chế mạch tích hợp germanium - tiền thân của các vi mạch (còn gọi là chip hay con bọ) được làm bằng chất bán dẫn silicon sau này.

Mạch tích hợp của J. Kilby

Kỹ sư Gordon Moore 39 tuổi khi sáng lập hãng Intel cùng tiến sĩ Robert Noyce (người sáng chế mạch tích hợp - tức IC hay vii mạch - độc lập với Kilby). Trong một bài báo đăng ngày 19.4.1965 của tạp chí Electronics ông Moore dự đoán mật độ transistor trên chip sẽ tăng gấp đôi trong khoảng từ 18 tháng đến 2 năm. Định luật Moore từ đó đến nay vẫn đúng dù trong thực tế đã sắp chạm đến giới hạn vật lý của thế giới vi mô, nơi có những định luật cơ học lượng tử làm chủ.

Định luật Moore và các chip Intel

Sự tăng trưởng đều đặn mật độ transistor trên một chip bán dẫn đã cho phép hãng Intel và các hãng tiếp theo làm ra được các bộ nhớ, bộ vi xử lý và các chip khác vừa nhỏ xíu vừa tiêu thụ rất ít điện. Những linh kiện này mở ra một con đường mới cho các hãng chế tạo máy tính và sự ra đời của máy tính cá nhân (PC), cũng như của các công ty khởi nghiệp (start-up) gần như đi từ số không mà sau này trở thành khổng lồ như MicroSoft, Apple v.v..

Trong thập niên 1980 mỗi chip silicon đã có thể phức tạp đến mức bao gồm hàng triệu transistor. Chúng có mặt trong cực nhiều ứng dụng và ở khắp mọi nơi, từ những thiết bị cá nhân gần gũi như máy tính, điện thoại v.v. cho đến những con tàu vũ trụ đang lặng lẽ bay đến các hành tinh xa xôi.... Transistor ngày nay càng nhỏ hơn và nằm gần nhau hơn ở mức nanomét (1 phần tỷ mét), cho phép các thiết bị mạnh lên gấp bội và thúc đẩy sự phát triển của xã hội với những bước ngoặt bất ngờ.

Ng.Chi Cong ©2019 Bảo tàng CNTT