Những người đầu tiên làm vi xử lý

Trong lịch sử công nghệ hiện đại, ít phát minh nào có tác động sâu rộng như bộ vi xử lý. Nó là nền tảng của máy vi tính, điện thoại thông minh, hệ thống nhúng… và toàn bộ kỷ nguyên số. Mở đầu là nhóm kỹ sư trẻ tụ tập về công ty Intel (do Robert Noyce và Gordon Moore thành lập vào năm 1968 tại Thung lũng Silicon), trong đó có thực tập sinh người Nhật Bản đóng vai trò then chốt là Masatoshi Shima (xem ảnh trên).

(Theo nguồn tin khác, bộ vi xử lý đầu tiên trên thế giới được thiết kế và phát triển từ 1968 đến 1970 bởi Steve Geller và Ray Holt. Bộ chip LSI tên là MP944, được sản xuất bởi American Microsystems, Inc. ở Santa Clara, CA và được dùng cho máy bay chiến đấu F14A “TomCat”. Nhóm thiết kế làm việc cho Garrett AiResearch Corp theo hợp đồng bí mật ký với Grumman Aircraft, nhà thầu chính của Hải quân Mỹ).

Robert Noyce và Gordon Moore

Nguồn gốc trực tiếp của vi xử lý không đến từ phòng thí nghiệm Intel, mà từ một đơn đặt hàng của hãng Nhật Bản Busicom vào năm 1969. Busicom muốn Intel thiết kế “một bộ gồm 12 chip logic tùy biến” để dùng cho dòng máy tính cầm tay có thể lập trình. Phía Busicom có Masatoshi Shima chịu trách nhiệm mô tả yêu cầu hệ thống và làm việc trực tiếp với Intel. Đề bài ban đầu mang tính “truyền thống”: thiết kế phần cứng chuyên dụng cho từng chức năng.

Tại Intel, kỹ sư Ted Hoff nhìn thấy vấn đề cốt lõi là thiết kế 12 chip riêng lẻ sẽ “tốn kém, khó mở rộng và thiếu linh hoạt”. Ông đề xuất một ý tưởng táo bạo vào thời điểm đó là “tạo ra một chip xử lý đa dụng” có thể lập trình bằng phần mềm để thực hiện các chức năng khác nhau. Nói cách khác, thay vì “đóng cứng” logic vào phần cứng, hãy “đưa logic vào chương trình” phần mềm. Đây chính là bản chất của vi xử lý hiện đại. Hoff cùng Stanley Mazor đã phác thảo kiến trúc khái niệm của con chip này.

Ted Hoff

Tuy nhiên, từ ý tưởng đến sản phẩm thương mại hoá là một quãng đường xa. Intel tuyển được Federico Faggin, một kỹ sư có kinh nghiệm sâu về công nghệ MOS. Faggin là người “thiết kế chi tiết, tối ưu và đưa kiến trúc 4004 thành con chip thực tế”. Phía Busicom, Shima không chỉ là “khách hàng” mà còn “tham gia trực tiếp vào thiết kế logic, tập lệnh, kiểm thử và hoàn thiện hệ thống”, đóng vai trò cầu nối kỹ thuật giữa yêu cầu ứng dụng và khả năng của công nghệ silicon.

Bộ chip Intel 4004 không tồn tại đơn lẻ mà là một hệ thống MCS-4 gồm chip 4004: CPU xử lý 4-bit, chip ROM: chứa chương trình, chip RAM: chứa dữ liệu, chip I/O: quản lý vào/ra. Shima hiểu rõ máy tính cầm tay cần gì trong thực tế, còn Intel hiểu rõ giới hạn và tiềm năng của công nghệ. Sự kết hợp này tạo ra một hệ thống “nhỏ gọn mà có khả năng tính toán tổng quát” là điều chưa từng có trước đó.

Federico Faggin

Ngày 15/11/1971, Intel công bố 4004 bộ vi xử lý thương mại đầu tiên trên thế giới với giá 60 USD. Con chip chứa khoảng 2.250 transistor chạy ở tần số 740 kHz, nhưng ý nghĩa của nó vượt xa thông số kỹ thuật. Lần đầu tiên trong lịch sử có một “CPU hoàn chỉnh nằm trong một con chip”, có thể “tái lập trình cho nhiều mục đích khác nhau”, và không bị giới hạn bởi một thiết bị cụ thể.

Intel đã “đàm phán lại quyền sở hữu” với Busicom, cho phép Intel bán 4004 như một sản phẩm chung, không chỉ dành cho máy tính cầm tay. Quyết định này đã mở ra ngành công nghiệp vi xử lý. Sau 4004, Intel đã nhanh chóng phát triển chip 8008 rồi 8080A và cuối cùng là dòng chip x86 với một kiến trúc thống trị máy vi tính qua vài thập kỷ liên tiếp. Còn Masatoshi Shima sau đó tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong lịch sử vi xử lý Nhật Bản, đặc biệt với chip Zilog Z80.

Stanley Mazor

Nhìn lại, chúng ta thấy vi xử lý không phải sản phẩm của một thiên tài đơn lẻ mà là kết quả của nhiều yếu tố cấu thành như: tầm nhìn kiến trúc (Hoff, Mazor), năng lực công nghê (Faggin), hiểu biết hệ thống và ứng dụng thực tế (Shima), và bối cảnh lịch sử cho phép ý tưởng mạo hiểm sớm được thử nghiệm.

Sự ra đời của chip vi xử lý đã chứng minh rằng công nghệ đã nhiều khi tiến bộ không theo kế hoạch ban đầu. Intel muốn làm bộ nhớ, Busicom muốn làm máy tính cầm tay, nhưng kết quả lại là một phát minh thay đổi thế giới. Lịch sử công nghệ không chỉ được viết bởi các tập đoàn lớn, mà còn bởi những kỹ sư hiểu sâu nhu cầu thực tế và dám phá vỡ cách làm cũ kỹ.

#NgChiCong ©2007-2019, Bảo tàng CNTT

Micral–N: chiếc máy vi tính đầu tiên

Phần lớn lịch sử máy vi tính cho đến nay được viết trên đất Mỹ. Nhưng thực tế, cội nguồn của máy tính thương mại có chip vi xử lý đầu tiên trên thế giới lại thuộc về Pháp. “Cha đẻ máy vi tính” là kỹ sư Pháp François Gernelle và một doanh nhân gốc Việt, ông André Trương Trọng Thi.

Sau gần ba năm nằm bệnh viện, ông Thi qua đời tại Pháp ngày 4-4-2005 ở tuổi 69. Ông sinh năm 1936 tại Chợ Lớn, sang Pháp học từ năm 14 tuổi, sau đó vào Trường Vô tuyến điện EFRE ở Paris (nay đổi thành Trường Vô tuyến điện và Tin học EFREI) rồi trở thành kỹ sư vô tuyến điện. Năm 1971 ông thành lập Công ty R2E, và cùng các cộng sự cho ra đời máy vi tính Micral-N vào tháng 5.1973.

Trương Trọng Thi nhận Bắc đẩu bội tinh Pháp

Từ tháng 12 năm 1973, máy Micral đã có ổ đĩa mềm và đến năm 1974, nó được trang bị thêm đĩa cứng, bàn phím và màn hình. Trong những năm 1970, Micral N được bổ sung thêm các mẫu G, S, M, C và V; bốn mẫu cuối cùng sử dụng chip Intel 8080. Năm 1978, nhà sản xuất Micral, R2E, được tập đoàn máy tính khổng lồ CII Honeywell-Bull của Pháp mua lại, nhưng thương hiệu này vẫn tiếp tục tồn tại cho đến năm 1983. Từ năm 1985 đến năm 1989, những chiếc máy tính nhỏ này được gọi là "Bull Micral", mẫu cuối cùng là Bull Micral 600.

Ý tưởng của ông Thi về máy vi tính vẫn được áp dụng đến bây giờ: máy gọn nhỏ, có thể sản xuất hàng loạt với giá phải chăng cho cả cá nhân lẫn doanh nghiệp ứng dụng trong hoạt động hàng ngày. Máy Micral khi ấy đã được đưa vào sử dụng ngay trong hệ thống thu phí xa lộ ở Pháp. Micral-N được xây dựng trên chip 8 bit Intel 8008 chạy ở 500 Khz, dung lượng bộ nhớ 256 bytes (với khả năng mở rộng lên... 1K !), có cả diode LED hiển thị và bàn phím.

Nhóm Micral của A.Trương và F.Gernelle

Mặc dù máy tính cá nhân tại châu Âu sau đó đã mở rộng thành rất nhiều hình thái khác nhau, từ các trò game video gia đình quen thuộc cho đến các workstation dành cho kỹ sư, nhưng có hai yếu tố kìm hãm tiến trình phát triển của nó. Thứ nhất, phần cứng và phần mềm của Mỹ xuất khẩu sang châu Âu có giá rẻ hơn. Thứ hai, ngôn ngữ là một rào cản lớn không chỉ về mặt dịch thuật, các bộ ký tự tại đa số các nước châu Âu cũng khác nhau, trong khi các chương trình và tài liệu bằng tiếng địa phương là điều kiện tiên quyết để máy tính cá nhân thành công.

Ngày 13.02.1994, ông François Gernelle đang xem TV và nghe lễ công bố kỷ niệm 20 năm ngày ra đời chiếc máy vi tính đầu tiên. Ông nhảy lên khi nhìn thấy hình ảnh người chủ cũ của mình, ông Thi, được tôn vinh là người phát minh ra chiếc máy Micral. Ông Thi đóng một vai trò mập mờ khá lâu. Trong vị trí giám đốc công ty R2E nơi ông cùng Gernelle nghiên cứu để tạo ra Micral, ông Thi đã tuyên bố mình là cha đẻ của máy. Vụ kiện kéo dài 4 năm (1994-1998) cho đến khi toà án phải công nhận Gernelle là người đồng phát minh ra chiếc máy vi tính đầu tiên.

François Gernelle

Gernelle và ông Thi gặp nhau năm 1968 tại Intertechnique, một công ty chuyên về các ứng dụng y học và hạt nhân. Kỹ sư điện tử Gernelle lúc đó đã đề xuất một mô hình máy vi tính sơ khai, nhưng nó không hoạt động được. Năm 1972, Gernelle gia nhập vào công ty R2E do ông Thi làm chủ. Tại đây họ đã tìm ra cách tạo ra một hệ thống giá rẻ để tính toán mức độ bốc hơi nước trong đất cho Viện quốc gia nghiên cứu nông học INRA. Gernelle đề xuất một máy tính với chi phí phân nửa. Cuối cùng, nhờ vậy mà máy Micral được ra đời.

Sau này, Gernelle vẫn hơi cay đắng với ông Thi. Tại sao họ đánh mất cơ hội trở thành những người giàu nhờ phát minh này? Bởi vì một ngày trong năm 1975, họ đã lỡ dịp tạo ra một doanh nghiệp khởi sự (start-up) kỳ diệu. Chiếc máy Micral có một số thành công tại Pháp và hãng Honeywell của Mỹ quan tâm tới việc mua nó. Trong một quán bar ở Los Angeles, ông chủ của Honeywell ra giá 2 triệu USD để mua lại Micral và hệ điều hành Prologue của R2E. Ông Thi đòi 4 triệu và ông chủ Honeywell ra về hơi buồn. Sau 1983, khi hãng Bull của Pháp mua lại R2E, Gernelle rời ông Thi để mở một công ty riêng khác, nhưng đã quá chậm.

Máy vi tính Micral-N

Dù không tạo nên một sự nghiệp kinh doanh lớn, nhưng cái tên André Truong và Gernelle vẫn được ngành công nghiệp máy tính ghi nhận là 2 người phát minh ra chiếc máy vi tính đầu tiên. Micral đã mở đường cho cuộc cách mạng vi tính làm thay đổi cuộc sống và cách giao tiếp của nhân loại chỉ trong vòng 20 năm. Các mẫu Micral hiện được trưng bày ở "Musée des arts et métiers à Paris" (Pháp) và "Boston Computer Museum" (Mỹ).

Một số mẫu Micral N nguyên bản hiện đang được lưu giữ trong các bộ sưu tập của Pháp; tuy nhiên, mẫu lâu đời nhất có lẽ là mẫu ở Bảo tàng Lịch sử Máy tính. Nó có niên đại từ thời cựu CEO của R2E, André Truong. Sau này, Paul Allen, người đồng sáng lập Microsoft và tỷ phú, đã mua với 62.000 euro một chiếc Micral N cho bảo tàng của mình ở Seattle tại một cuộc đấu giá.

Từ 2006 giảng đường trường EFREI mang tên André Truong

Năm 2006, nhân lễ kỷ niệm 70 năm thành lập trường EFREI, cựu giám đốc hãng Microsoft đã đọc lời ca ngợi của Bill Gates: "Ông Trương Trọng Thi là một trong những người đã nhận thức sớm khả năng của máy vi tính. Ông đã hướng công tác của mình theo con đường này trước khi tôi và Paul Allen khởi xướng Microsoft… Tôi đã vui thích làm việc với ông trong nhiều thập niên: ông luôn nuôi giữ óc sáng tạo và luôn sẵn lòng đem công nghệ phục vụ đại chúng".

Có thể Trương Trọng Thi chưa kịp đóng góp gì cho đất nước nơi ông sinh ra. Nhưng giờ đây, khi ông đã ra đi, chắc chắn sẽ có thêm nhiều người Việt biết đến ông và thêm tự hào rằng một trong 2 nhà phát minh ra máy vi tính là đồng hương của mình. Năm 2008 nhà văn Vũ Ngọc Tiến đã đề nghị Nhà nước Việt Nam truy tặng ông một phần thưởng cao quý xứng đáng, và hình như cho đến nay chưa thấy trả lời. Tuy nhiên trên mạng Internet thì tư liệu về Micral-N và Trương Trọng Thi khá phong phú.

Ng.Chi Cong ©2019 Bảo tàng CNTT