“Thung lũng Silicon” là cái tên mà báo chí đặt cho Santa Clara từ những năm 1970. Thực ra nó chỉ là nửa thung lũng với vịnh San Francisco ở phía đông và các dãy đồi rừng ở phía tây. Trước đó, nơi đây vốn yên tĩnh, vắng vẻ với nhiều vườn cây và chỉ mới có một trung tâm lớn là Đại học Stanford.
Cũng theo báo chí, hình như công ty nào ở Thung lũng Silicon càng ra đời muộn càng giàu nhanh. Hewlett-Packard ra đời năm 1939 và phải mất 47 năm để có tài sản 1 tỷ USD. Để giàu được bằng mức ấy, Yahoo thành lập năm 1995 đã mất 2 năm, còn Netzero (sinh năm 1998) chỉ mất có 6 tháng, v.v..
Một vị khai lập Thung lũng Silicon là Frederick Terman nhận được học vị tiến sỹ kỹ thuật điện ở Viện MIT, về sau cũng trở thành giáo sư ĐH Stanford như cha mình. Giáo trình Bài giảng kỹ thuật vô tuyến của ông cuốn hút được nhiều sinh viên tài năng, trong đó có David Packard và Bill Hewlett. Năm 1938, do ông khuyến khích, hai chàng đã phát triển thành công một loại mạch dao động mới. Một năm sau, với số vốn ban đầu 538 USD, hai người này thành lập công ty khởi nghiệp công nghệ cao đầu tiên. Hiện nay, Hewlett-Packard là một tên tuổi hàng đầu.
Năm 1953, Frederick Terman phát động chương trình hợp tác để các kỹ thuật viên làm việc tại các công ty trong thung lũng có thể học thêm và cập nhật kiến thức mới, đồng thời các thành viên trong trường ĐH Stanford có dịp tiếp xúc thực tiễn công nghệ.
Terman còn thành lập “Công viên Nghiên cứu Stanford” của trường này. Đến năm 2000, đã có khoảng 50 công ty với 23.000 nhân viên và 50 trung tâm nghiên cứu. Việc đào tạo nâng cao chuyên môn cho các cán bộ trẻ được vận hành thông qua mạng lưới xã hội được thiết lập giữa các công ty và các giáo sư đại học. Các giám đốc của các trung tâm nghiên cứu là những người vừa có chuyên môn như các giảng viên đại học lại vừa có năng lực và kinh nghiệm trong hoạt động kinh doanh.

Frederick Terman năm 1926
Vào thập kỷ 1950, Terman đã mời William Shockley về Santa Clara. Năm 1947, tại Bell Lab, Shockley cùng với Bardeen và Brittain chế tạo thành công chiếc transistor đầu tiên. Ba người được nhận Giải Nobel vào năm 1956. Shockley thành lập cơ sở riêng ở Palo Alto để sản xuất transistor và các link kiện chất rắn khác nhưng có 8 nhân viên sau một năm đã rời bỏ. Ông gọi họ là “Tám kẻ phản bội”, gồm: Sheldon Roberts, Eugene Kleiner, Jean Hoerni, Robert Noyce, Gordon Moore, Jay Last, Victor Grenich, Julius Blank.
Họ từng đề xuất ý tưởng về một công nghệ mới nhưng Shockley từ chối không cho nghiên cứu nó. Họ tìm đến một ngân hàng đầu tư ở New York và được giới thiệu với Sherman Fairchild, chủ một nhà máy thiết bị quân sự ở Long Island. Vốn là kỹ sư nên Fairchild phần nào hiểu được ý tưởng của tám người và cho họ vay 1,5 triệu USD. Năm 1957, Tập đoàn Bán dẫn Fairchild được thành lập tại thành phố Mountain View. Công nghệ “transistor silicon khuếch tán kép” nhận được sự chấp thuận của Không lực Mỹ. Điều đó đã khích lệ nhóm vượt qua khó khăn để chế tạo thành công loại transistor mà chỉ sau một năm rưỡi đã là sản phẩm độc quyền của Tập đoàn. Năm 1958, vi mạch do Robert Noyce phát triển cũng đi vào sản xuất, trở thành yếu tố quyết định cho Tập đoàn cất cánh.

“Tám kẻ phản bội”
Năm 1959, Sherman Fairchild mua lại toàn bộ Tập đoàn. Mỗi vị trong tám người được nhận 250.000 USD, nhưng họ dần dần rời bỏ Tập đoàn, Noyce và Moore ra đi vào năm 1968. Tháng 7 năm đó, vẫn tại Mountain View, hai vị này thành lập công ty “Integrated Electronics”, gọi tắt là Intel. Họ không đơn giản chỉ lặp lại những việc đã làm ở Fairchild mà còn vạch ra một hướng chiến lược hoàn toàn mới là tối tiểu hoá các vi mạch. Năm 1969, bộ nhớ Intel đầu tiên ra đời và đến năm 1971 là bộ vi xử lý đầu tiên i4004.
Thời kỳ đầu, Intel chủ yếu cung cấp các sản phẩm phục vụ quân sự. So với đối thủ chính là hãng Texas Instruments, Intel đã thay đổi đến tận gốc rễ phương thức sản xuất và đặt ra những chuẩn mực cao hơn về độ tin cậy. Hai năm sau khi bộ vi điều khiển đầu tiên của Texas Instruments là TMS1600 ra đời, Intel đã đuổi kịp với sản phẩm i8748.
Các bộ vi xử lý tạo điều kiện cho sự xuất hiện của các máy vi tính. Năm 1976, hai chàng Steve Wozniak 26 tuổi và Steve Jobs 21 tuổi đã ráp được máy vi tính Apple I gồm cả bàn phím và màn hình. Với sự giúp đỡ về vốn của Arthur Rock, hai chàng thành lập hãng Máy tính Apple và nhanh chóng tung ra sản phẩm Apple II. Đến năm 1978, Apple thu được lợi nhuận hơn 2 triệu USD.

Marc Andreesen
Năm 1993 là bước ngoặt tiếp theo của Thung lũng Silicon với việc khai thác thương mại trên Internet và sự ra đời của “web”. Internet bắt đầu được truy cập rộng rãi nhờ phần mềm “Mosaic” của chàng sinh viên 21 tuổi Marc Andreesen ở ĐH Illinois. Nó vốn miễn phí và tính đến cuối năm 1993 đã có đến 1 triệu người sử dụng. Andreesen sau khi tốt nghiệp đã đến Thung lũng Silicon và gặp Jim Clark, nhà sáng lập Silicon Graphic. Tháng 4-1994, họ cùng nhau thành lập Mosaic Communications, ít lâu sau đổi thành Netscape.
Tháng 10-1994, Netscape tung ra trình duyệt web Navigator và nó còn thành công hơn cả Mosaic. Ngược với ý định ban đầu của Andreesen, Netscape lập tức đòi người dùng phải trả tiền. Ngay sau đó, Bill Gates tung ra Window 95 kèm trình duyệt miễn phí Internet Explorer. Đến năm 1998, Netscape đành phải để Navigator cũng miễn phí. Netscape được tiếp quản bởi American Online (AOL) vào tháng 11-1998. Tuy bị mất thị trường trình duyệt nhưng nó vẫn là một đại cao thủ Internet.
Trong thời gian đó, hai nghiên cứu sinh ở ĐH Stanford là Jerry Chih-Yang và David Filo đã thiết lập một máy tìm kiếm, về sau đổi tên thành “Yahoo”. Đến cuối năm 1994, Yahoo đã có 100.000 người truy cập mỗi ngày. Ban đầu, mục đích của Chih-Yang và Filo chỉ là chơi cho vui. Sau đó họ đã biến Yahoo thành công cụ kiếm tiền bằng cách cung cấp các dịch vụ và cho đăng quảng cáo.

Năm 1995, cùng với sự tham gia của Mike Moritz và nguồn vốn đầu tư mạo hiểm Sequoia, Yahoo trở thành một công ty trách nhiệm hữu hạn với trụ sở ở Mountain View. Cũng giống như nhiều công ty khác trong Thung lũng Silicon, bí quyết thành công của Yahoo là có ý tưởng hay, đúng nơi và đúng lúc. Để chiếm lĩnh niềm tin của khách hàng, Yahoo đã sớm cung cấp cho cư dân mạng những địa chỉ Email miễn phí và thường xuyên duy trì liên kết với các website khác. Từ vốn ban đầu 1 triệu USD, sau 4 năm tài sản của Yahoo đã tăng lên 8 tỷ USD tính đến 1999.
Cũng không thể không kể đến các anh tài về công nghệ phần mềm tại Thung lũng Silicon. Nổi bật trong đó là Oracle, hãng phần mềm lớn thứ hai thế giới sau Microsoft. Xuất phát với 2000 USD vào năm 1977, tài sản của hãng này đã lên tới 50 tỷ USD tính đến 1999. Cùng với Oracle là nhiều cái tên quen thuộc khác có trụ sở làm việc ở Thung lũng Silicon như: 3D Graphics, Sun Micro Systems, Silicon Graphics, tất cả đều phát triển xung quanh Đại học Stanford.
#NgChiCong ©2007-2019, Bảo tàng CNTT